Category Archives: Đất đai

Tư vấn thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có tranh chấp với hàng xóm?

Tôi có một vấn đề mong luật sư giải đáp: Gia đình tôi có phần đất do cha tôi để lại với diện tích 30x75m và đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do vợ chồng tôi đứng tên được chia làm 2 thửa gần bằng nhau, gia đình tôi đã xây một căn nhà trên thửa đất bên phải và có đầy đủ giấy phép theo quy định của pháp luật với phần diện tích 15m ngang,thửa đất bên trái 15m còn lại ko xây dựng chỉ trồng cây.



Hiện đang làm thủ tục hoàn công xin giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất. Vấn đề xảy ra khi có người tranh chấp đất với gia đình tôi ở phần ranh thửa bên trái bên trồng cây nên UBND phường chưa giải quyết cấp phép cho gia đình tôi. Tôi xin trình bày thêm là người tranh chấp phần ranh với chúng tôi không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Với sự việc nêu trên mong quý cơ quan hướng dẫn tôi phải làm thế nào để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở và tài sản gắn liền với đất là nhà ở, chúng tôi có được quyền xin cấp giấy phép hay không khi thửa đất tranh chấp ranh không phải là thửa đất dùng xây nhà.

Trả lời:

1. Đối với thửa đất không có tranh chấp thì có thể xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất.

Thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đất và tài sản khác gắn liền với đất trong trường hợp này thì sẽ tuân theo trình tự, thủ tục sau:

a) Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đang sử dụng đất: được thực hiện theo quy định tại Điều 123 Luật Đất đai và quy đinh cụ thể tại Điều 135, Điều 136 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đất đai:

Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất tại xã, thị trấn:

– Cơ quan tiếp nhận hồ sơ: Ủy ban nhân dân xã, thị trấn nơi có đất.

– Hồ sơ gồm có:

+ Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

+ Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai (nếu có);

+ Văn bản uỷ quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có).

b) Trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất tại phường:

– Cơ quan tiếp nhận hồ sơ: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng tài nguyên và môi trường quận nơi có đất.

– Hồ sơ gồm có:

+ Đơn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;

+ Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai (nếu có);

+ Văn bản uỷ quyền xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (nếu có).

2) Đối với mảnh đất có tranh chấp thì để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thì trước hết, cần giải quyết tranh chấp.

Các biện pháp giải quyết tranh chấp về đất đai theo quy định tại Luật đất đai 2013:

– Tại Điều 202 Luật Đất đai 2013 quy định hòa giải tranh chấp đất đai:

“1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở.

2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.

3. Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại UBND cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai.

4. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của UBND cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại UBND cấp xã nơi có đất tranh chấp”

– Còn theo Điều 203 Luật đất đai 2013 quy định: Tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:

“1. Tranh chấp đất đai mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án nhân dân giải quyết;

2. Tranh chấp đất đai mà đương sự không có Giấy chứng nhận hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật này thì đương sự chỉ được lựa chọn một trong hai hình thức giải quyết tranh chấp đất đai theo quy định sau đây:

a) Nộp đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự;”

Như vậy, sau khi giải quyết tranh chấp về thửa đất trên thì thửa đất đó có thể được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 của Luật Đất đai và Điều 48 củaNghị định số 181/2004/NĐ-CP.

Tư vấn giải quyết tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng đất đai

Tóm tắt tình huống: Vợ chồng Ông N, bà Nh có quyền sử dụng 7930 m2 đất gồm 4 thửa số 36 tờ bản đồ số 28 và thửa số 91, 94, 95 tờ bản đồ 32 Xã TH, Huyện Long Thành, Tỉnh Đồng Nai.



21/7/2007: Ông N , bà Nh và bà Ng thỏa thuận chuyển nhượng 7.344 m2 gồm 3 thửa 91, 94, 95 tờ bản đồ số 32 với giá là 30 triệu/1.000m2. Bà Ng đã đưa trước 41 triệu. Bà Ng đã mượn giấy nhận QSD đất; chứng minh thư nhân; sổ hộ khẩu của vợ chồng Ông N và bà NH để sang tên.

23/11/2007: Ông N ký vào giấy bán đất cho bà Ng nhưng bà Ng không tiếp tục thực hiện hợp đồng nên xảy ra tranh chấp.

10/3/2008: Ông N làm đơn gửi đến TAND huyện Long Thành

9/4/2008: TAND huyện Long Thành đã thụ lý đơn của Ông N

23/09/2010: TAND huyện Long Thành đưa vụ án ra xét xử. Bản án sơ thẩm số 234 quyết định: Bà Ng có trách nhiệm giao trả tiếp số tiền chuyển nhượng đất là 309 triệu. Sau làm xong thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Bà Ng có trách nhiệm trả lại cho Ông N và bà Nh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông vì còn có thửa số 36 tờ bản đồ 28 không nằm trong hợp đồng chuyển nhượng đất.

3/10/2008: Ông Huỳnh Ng kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm

25/11/2008: Ông N rút đơn kháng cáo. Đình chỉ xét xử phúc thẩm. Bản án sơ thẩm có hiệu lực.

5/5/2011: Ông N xin kháng nghị giám đốc thẩm

5/7/2011: VKSND tỉnh Đồng Nai có quyết đinh kháng nghị giám đốc thẩm do bỏ sót tư cách tố tụng là ông Phan Đình Định. Hợp đồng trước đây bà Ng nhờ ông Định- em ruột bà Ng đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng đất với vợ chồng Ông N , bà Nh nhưng tòa án không đưa ông Đinh tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: hủy bản án sơ thẩm của TAND huyện Long Thành giải quyết và chuyển hồ sơ cho TAND huyện Long Thành giải quyết lại theo thủ tục chung.

I. Làm rõ một số chi tiết trong tình huống.

21/7/2007: Ông N , bà Nh và bà Ng thỏa thuận chuyển nhượng 7.344 m2 gồm 3 thửa 91, 94, 95 tờ bản đồ số 32 với giá là 30 triệu/1.000m2 Bà Ng đã đưa trước 41 triệu. Bà Ng đã mượn giấy nhận QSD đất; chứng minh thư nhân; sổ hộ khẩu của vợ chồng Ông N và bà N để sang tên.

Ở đây tôi muốn làm rõ vấn đề về sự kiện mượn giấy tờ của Ông N và bà Nh để sang tên cho bà Ng. Việc mượn giấy tờ này chỉ là bằng miệng hay có viết tay về việc biên nhận giấy tờ này.

23/11/2007: Ông N ký vào giấy bán đất cho bà Ng nhưng bà Ng không tiếp tục thực hiện hợp đồng nên xảy ra tranh chấp.

Cần làm rõ sự kiện ký vào giấy bán đất cho bà Ng.

Cụ thể giấy bán đất này là giấy gì? Là hợp đồng chuyển quyền sử dụng đấy hay chỉ là giấy biên nhận đã nhận tiền, giấy biên nhận mượn giấy tờ. Hơn thế nữa cần làm rõ Ông N ký với ai, với hai bên là Ông N và bà Ng hay ba bên là Ông N , bà Ng và công chứng viên?

Nếu giấy biên nhận trên là hợp đồng chuyển nhượng quyền sự dụng đất thì chính Ông N đã mang rủi ro vào mình khi ký vào hợp đồng có đối tượng là bất động sản mà không có công chứng hay chứng thực theo quy định của pháp luật. Còn nếu là giấy biên nhận thì bà Ng hoàn toàn không có lỗi

Ở đây Ông N ký hợp đồng với ai. Nếu sự kiện ký chỉ xảy ra giữa hai bên thì Ông N một lần nữa không hiểu pháp luật, mua rủi ro vào bản thân mình. Bởi vì Theo quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 126 Luật đất đai thì: “Hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân phải có chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất hoặc chứng nhận của công chứng nhà nước”. như vậy việc Ông N ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với bà Ng như vậy là lỗi thiếu hiểu biết về pháp luật của Ông N . Còn nếu Ông N ký với ba bên trong đó có bà Ng và công chứng viên thì hợp đồng này hoàn toàn hợp pháp về mặt hình thức. Tuy nhiên theo quy định tại Điều 39 Luật công chứng viên thì địa điểm công chứng phải thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trừ các trường hợp được quy định tại khoản 2 của Điều này: “Việc công chứng có thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợpngười yêu cầu công chứng là người già yếu không thể đi lại được, người đang bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng”.

Thông tư số 11/2011/TT-BTP hướng dẫn thực hiện một số nội dung về công chứng viên, tổ chức và hoạt động công chứng, quản lý nhà nước về công chứng, tại Điều 11 của Thông tư này có quy định: “Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng. Việc công chứng ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng chỉ thực hiện trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 39 Luật Công chứng và do tổ chức hành nghề công chứng chịu trách nhiệm xem xét từng trường hợp cụ thể để quyết định thực hiện việc công chứng ngoài trụ sở. Khi thực hiện công chứng ngoài trụ sở, công chứng viên phải ghi rõ lý do và địa điểm công chứng vào văn bản công chứng”.

Với các quy định này ta có thể nhận thấy vấn đề địa điểm công chứng không ảnh hưởng đến hiệu lực của hợp đồng chuyển nhượng. Như vậy, với việc ký hợp đồng chuyển nhượng ba bên thì hợp đồng này đã hợp pháp về mặt hình thức.

Còn một vấn đề nữa là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này đứng tên một mình cá nhân Ông N hay đứng tên hộ gia đình. Vấn đề này cực kỳ quan trọng trong quá trình thực hiện hợp đồng chuyển nhượng. Vì nếu là các nhân Ông N thì Ông N có toàn quyền đối với mảnh đất đó. Còn nếu là tài sản hộ gia đình thì buộc khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng phải có chữ ký thể hiện sự đồng ý của mỗi các nhân trong hộ gia đình mà cụ thể ở đây là cả Ông N và Bà Nhường.

10/3/2008: Ông N làm đơn gửi đến TAND huyện Long Thành.

Khi Ông N làm đơn gửi đến Tòa án thì cơ sở nào để Ông N làm đơn gửi đến Tóa án nhân dân Huyện Long thành. Tức là Ông N đã có những chứng cứ, tài liệu gì.

9/4/2008: TAND huyện Long Thành đã thụ lý đơn của Ông N

Theo quy đinh tại Điều 167 BLTTDS: “Toà án phải nhận đơn khởi kiện do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Toà án phải xem xét và có một trong các quyết định sau đây:

1. Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của mình;

2. Chuyển đơn khởi kiện cho Toà án có thẩm quyền và báo cho người khởi kiện, nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án khác;

3. Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện, nếu việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án”

Như vậy khi nhận được đơn khởi kiện của Ông N trong vòng 5 ngày thì Ông N có nhận được giấy tờ về việc tiến hành thủ tục thụ lý vụ án hay một giấy tờ khác không?

Theo quy định tại Điều 171 BLTTDS thì: “Sau khi nhận đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, nếu xét thấy vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án thì Toà án phải thông báo ngay cho người khởi kiện biết để họ đến Toà án làm thủ tục nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp họ phải nộp tiền tạm ứng án phí”

23/09/2010: TAND huyện Long Thành đưa vụ án ra xét xử. Bản án sơ thẩm số 234 quyết định: Bà Ng có trách nhiệm giao trả tiếp số tiền chuyển nhượng đất là 309 triệu. Sau làm xong thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì Bà Ng có trách nhiệm trả lại cho Ông N và bà Nh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông vì còn có thửa số 36 tờ bản đồ 28 không nằm trong hợp đồng chuyển nhượng đất.

Đối với nội dung bản án sơ thẩm này thì Bà Ng có trách nhiệm trả lại cho Ông N giấy chứng nhận quyền sử dụng bản gốc vì trong đó còn có thửa số 36 tờ bản đồ số 28 không nằm trong hợp đồng chuyển nhượng giữa Ông N , bà Nh và Ng. Bên cạnh đó bà Ng có trách nhiệm giao số tiền chuyển nhượng còn lại theo giá thị trường hiện nay cho Ông N là 309 triệu đồng. Đồng thời Ông N có trách nhiệm giao mảnh đất nằm trong hợp đồng chuyển nhượng đó cho bà Ng.

3/10/2008:Ông Huỳnh Ngọc kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại sao Ông N lại kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Cơ sở pháp lý gì khiến Ông N có quyết định như vậy trong khi tranh chap giữa Ông N và bà Ng đã được giải quyết.

Theo quy đinh tại Điều 45 về Thời hạn tự nguyện thi hành án thì: “Thời hạn tự nguyện thi hành án là 15 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được hoặc được thông báo hợp lệ quyết định thi hành án.Nếu hết thời hạn này mà người phải thi hành có điều kiện thi hành án mà lại không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế theo quy đinh tại Điều 46 Luật thi hành án dân sự.

Vậy nếu trọng tâm là việc bà Ng không thực hiện theo bản án sơ thẩm số 234 thì Ông N phải làm đơn đến cơ quan thi hành án huyện Long Thành theo quy đinh tại Điều 35 Luật thi hành án dân sự để yêu cầu cưỡng chế thi hành án dân sự thay vì làm đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 234 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành. Bởi vì thi hành án dân sự là giai đoạn kết thúc của quá trình tố tụng, trong đó các bản án, quyết đinh của Tòa án phải được thi hành. Thi hành án đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định dân sự của Tòa án, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của các nhân, tổ chức có quyền và lợi ích liên quan,

25/11/2008: Ông N rút đơn kháng cáo. Đình chỉ xét xử phúc thẩm. Bản án sơ thẩm có hiệu lực.

Hơn một tháng sau Ông N lại rút đơn kháng cáo. Điều này thể hiện cho ta thấy thái độ của Ông N với cơ quan nhà nước có phần thiều tôn trọng, việc làm đơn kháng cáo và rút đơn kháng cáo là cả một công đoạn, trình tự theo luật định không thể theo ý chí chủ quan của mỗi người.

Chính tại thời điểm này thì bản án sơ thẩm chính thức có hiệu lực pháp luật. Tức bà Ng phải trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gốc cho Ông N và bà Nhường, bà Ng có trách nhiệm trả cho Ông N 309 triệu đồng tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn thiếu theo giá thị trường hiện nay. Đồng thời Ông N có trách nhiệm giao đất cho bà Ng.

5/5/2011: Ông N xin kháng nghị giám đốc thẩm.

Câu hỏi lớn khi đến giai đoạn này tại sao Ông N lại kháng nghị giám đốc thẩm? Cơ sở nào để Ông N kháng nghị giám đốc thẩm. Phải chăng ông thấy được hành vi vi phạm trong quá trình hai bên giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa Ông N và bà Ng.

5/7/2011: VKSND tỉnh Đồng Nai có quyết đinh kháng nghị giám đốc thẩm do bỏ sót tư cách tố tụng là ông Phan Đình Định. Hợp đồng trước đây bà Ng nhờ ông Định- em ruột bà Ng đứng tên trong hợp đồng chuyển nhượng đất với vợ chồng Ông N , bà Nh nhưng tòa án không đưa ông Đinh tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: hủy bản án sơ thẩm của TAND huyện Long Thành giải quyết và chuyển hồ sơ cho TAND huyện Long Thành giải quyết lại theo thủ tục chung. Thủ tục chung được quy định cụ thể tại chương XII Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông N có thể hủy bỏ hợp đồng chuyển nhượng đó theo quy định tại Điều 45 luật công chứng viên là:“Việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thoả thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó và phải được công chứng.

2. Người thực hiện việc công chứng sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch phải là công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng đó. Trường hợp tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng chấm dứt hoạt động hoặc giải thể thì công chứng viên thuộc tổ chức hành nghề công chứng đang lưu trữ hồ sơ công chứng thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch.

3. Công chứng việc sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch được thực hiện theo thủ tục công chứng hợp đồng, giao dịch quy định tại Chương IV của Luật này”

Tuy nhiên trường hợp này phải có sự thỏa thuận đồng ý của các bên tham gia hợp đồng trong đó có Ông N và bà Ng.

Như vậy với vai trò tư vấn tôi có thể tư vấn cho Ông N và Bà Nh gửi đơn đến tòa án yêu cầu hủy lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng chuyển nhượng nhà ở giữa bà Ng và các đối tượng khác đó theo quy định tại Điều 45 luật công chứng: “Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Toà án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật”.

Với việc phát hiện ra sự vi phạm pháp luật trong quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Đó là chủ thể trong hợp đồng chuyển nhượng giữa Bà Ng với những người khác đối với mảnh đất mà quyền sử dụng đất là của Ông N và bà Nhường. Ông N có thể làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Long Thành tuyên bố văn bản công chứng đó vô hiệu.

Tại sao khi công chứng viên không chứng minh đc đầy đủ quyền sở hữu đối với căn nhà đó mà vẫn tiến hành công chứng hợp đồng để dẫn đến tình trạng tranh chấp như trên. Như vậy theo quy đinh tại khoản 5 Điều 32 Luật công chứng thì: nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng “Bồi thường thiệt hại do lỗi mà công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng gây ra cho người yêu cầu công chứng” vấn đề lỗi hiện nay của công chứng viên vẫn chưa được hướng dẫn cụ thể tại một van bản nào. Tuy nhiên áp dụng tương tự pháp luật ta có thể thấy lỗi bao gồm lỗi chủ quan và lỗi khách quan, ở đây có thể hiểu lỗi là mọi hành vi của công chứng viên đối với việc công chứng mà không phù hợp với yêu cầu của pháp luật về công chứng đều được coi là lỗi của công chứng viên. Tuy nhiên, vấn đề mức độ bồi thường chưa được nêu rõ nhưng nó được tính là dựa trên thiệt hại thực tế bị mất đối với Ông N .

Tư vấn tình huống

Thứ nhất vềhợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông N và bà Ng:

Theo quy định của pháp luật thì:

– Điều 405 Bộ Luật dân sự năm 2005 (BLDS 2005) quy định: “Hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực kể từ thời điểm giao kết, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

– Điều 689 BLDS 2005 quy định: “Hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất phải được lập thành văn bản, có công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật”.

– Điểm b, khoản 1, Điều 127 Luật Đất đai quy định: “Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất”.

– Khoản 3 điều 4 Luật Công chứng quy định: “Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và có đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng”.

Đến đây có thể hiểu: nếu hộ gia đình, cá nhân lựa chọn hình thức công chứng hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất tại các tổ chức hành nghề công chứng thì thời điểm hợp đồng có hiệu lực là thời điểm hợp đồng được công chứng viên ký và đóng dấu của tổ chứng hành nghề công chứng.

Như vậy có thể thấy hợp đồng chuyển nhượng đất giữa ông N và bà Ng là hợp pháp theo quy định của pháp luật hiện hành thì hợp đồng phải đáp ứng được những điều kiện nêu trên cùng với một số quy định của pháp luật dân sự về nội dung, chủ thể hợp đồng dân sự.

Như vậy, vấn đề về thời hiệu khởi kiện khởi kiện đối với hợp đồng dân sự được tính theo quy định tại Điều 427 BLDS: "Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp hợp đồng dân sự là hai năm, kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, các chủ thể khác bị xâm phạm".

Thời hiệu khởi kiện trong tình huống này của ông N vẫn đang còn. Nó được tính từ ngày mà hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Ng và bà Ng, Như vậy việc khởi kiện này này hoàn toàn hợp lý và vẫn trong thời hiệu khởi kiện. Cần chú ý là đây chỉ là thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng chuyển nhượng giữa Ông N và bà Ng. Thời hiệu này là hai năm như vậy tính đến hiện nay thì Ông N đã hết thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng này. Quy định này của pháp luật là hoàn toàn hợp lý, yêu cầu chủ thể ký hợp đồng phải chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình.

Về vấn đề Giám đốc thẩm của Ông N :

Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Theo quy định tại Điều 284 Bộ luật TTDS, trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó (những “căn cứ” quy định tại phần III mục A) thì đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan) có quyền gửi “Đơn đề nghị xem xét lại bản án theo thủ tục giám đốc thẩm” tới những người có quyền kháng nghị để được xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

Điều 288 BLTTDS quy định: "Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm chỉ được tiến hành việc kháng nghị trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật".Như vậy ngày 23/9/2008 bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Nhưng ngày 3/10/2008 ông N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Ngày 25/11/2008 TA đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vì ông Ng rút đơn kháng cáo. Như vậy, từ ngày này thì bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm trong vụ án này được tính từ ngày 25/11/2008. Thời hiệu này kéo dài đến 25/11/2011.

Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm:

Điều 283 BLTTDS quy định: "Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây: Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng"

Khoản 1 Điều 299 BLTTDS quy định: "Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại trong các trường hợp sau đây: Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này".có thể thấy trong vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Ng với bà Ng thì việc thu thập chứng cứ và chứng minh thực hiện chưa đầy đủ.

Thứ hai, khi Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Ng và bà Ngkhông hợp pháp mà cụ thể là:

Chủ thể ký hợp đồng chuyển nhượng không có thẩm quyền ký theo quy định của pháp luật:

Tổ chức công chứng thực hiện công chứng hợp đồng thứ hai do không cập nhật thông tin giao dịch bất động sản trong hệ thống, dẫn đến việc chứng nhận một hợp đồng bị lừa dối về chủ thể, một thửa đất bị lừa dối chuyển nhượng cho nhiều người. Theo quy định tại Điều 45 Luật Công chứng: "Công chứng viên, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền đề nghị Toà án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật" Ông Ngóc là người có quyền, lợi ích liên quan đến hợp đồng mà bà Ng đã ký với người thứ ba, có quyền đề nghị Toà án tuyên bố văn bản công chứng đó vô hiệu vì việc công chứng có vi phạm pháp luật.

Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:

Thời hiệu yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập"

Điều 132 Bộ luật dân sựquy định: "Khi một bên tham gia giao dịch dân sự do bị lừa dối hoặc bị đe dọa thì có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố giao dịch dân sự đó là vô hiệu. Lừa dối trong giao dịch là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó".

Hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu:

Khi hợp đồng vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu không hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền, trừ trường hợp tài sản, hoa lợi, lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật. Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường.

Trong trường hợp Hợp đồng vô hiệu nhưng tài sản là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình thì Hợp đồng với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ quyền lối đi qua bất động sản liền kề theo quy định tại Điều 257 của Bộ luật dân sự.

Trong trường hợp tài sản là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một Hợp đồng khác cho người thứ ba ngay tình thì Hợp đồng với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa.

Thực tế cho thấy thì Thời gian qua, có một trường hợp Sở Tư pháp ra quyết định hủy lời chứng của công chứng viên do người ủy quyền chứng minh không đầy đủ quyền sở hữu đối với căn nhà khi ủy quyền cho người khác quản lý (do người bị ảnh hưởng quyền lợi yêu cầu). Và một trường hợp UBND TP đề nghị Sở Tư pháp hủy hợp đồng công chứng đã ký do người đó không có đầy đủ quyền sở hữu đối với bất động sản đó mà thuộc diện Nhà nước quản lý. Vấn đề "hủy lời chứng" khi không phải do các bên giao dịch yêu cầu, hiện nay còn nhiều vướng mắc vì hiện tại vẫn chưa có quy định cụ thể của pháp luật. vấn đề "áp dụng pháp luật" khi phát hiện vấn đề giao dịch đó có điểm sai, rút lại lời chứng để kịp thời sửa sai.

Trường hợp này công chứng tại văn phòng công chứng thì vấn đề xác định trách nhiệm gặp nhiều khó khăn vì pháp luật chưa quy định rõ. Khi công chứng viên công chứng đã ký do chủ thể chuyển nhượng không có đầy đủ quyền sở hữu đối với mảnh đất đó. Pháp luật quy định vẫn chưa rõ ràng trách nhiệm của công chứng viên trong các trường hợp này dẫn đến sự dùn đẩy hay phó thác trách nhiệm.

=> Như vậy với vai trò tư vấn tôi có thể tư vấn cho Ông N và Bà Nh gửi đơn đến tòa án yêu cầu hủy lời chứng của công chứng viên đối với hợp đồng chuyển nhượng nhà ở giữa bà Ng và các đối tượng khác đó. Có thể thấy một vấn đề xảy ra ở đây phải chăng công chứng viên và bà Ng có mối quan hệ gì cần chứng minh. Tại sao khi công chứng viên không chứng minh đc đầy đủ quyền sở hữu đối với căn nhà đó mà vẫn tiến hành công chứng hợp đồng để dẫn đến tình trạng tranh chấp như trên. Có thể thấy dấu hiệu lừa dối trong bản hợp đồng này. Tuy nhiên đây là một vụ án dân sự thì có dấu hiệu của tội phạm cần yêu cầu viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành kiểm sát hoạt động này. Nếu thực sự thì sẽ khởi tố vụ án hình sự với tội danh rõ ràng: lừa đảo chiếm đoạt tài sản bên cạnh vụ án dân sự trên.

III. Dấu hiệu tội phạm trong vụ án dân sự.

Với tình huống này ta Có thể thấy dấu hiệu lừa dối trong bản hợp đồng này. Đây là một vụ án dân sự thì có dấu hiệu của tội phạm cần yêu cầu viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành kiểm sát hoạt động này. Nếu thực sự thì sẽ khởi tố vụ án hình sự với tội danh rõ ràng: lạm dụng chiếm đoạt tài sản bên cạnh vụ án dân sự trên. Dấu hiệu tội phạm ta có thể thấy ở đây là: thứ nhất về mặt khách quan thì bà Ng đã có được tài sản một cách ngay thẳng thông qua hợp đồng chuyển nhượng quyền

Điều 140 BLHS quy định Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ một triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới một triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tùtừ ba tháng đến ba năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Đối chiếu với quy định nêu trên, ta có thể nhận thấy dấu hiệu của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của bà Ng. Cụ thể các dấu hiệu đó như sau:

Về chủ thể.

Bà là người có năng lực trách nhiệm hình sự, cụ thể như sau:

– Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 Bộ luật Hình sự):

Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

– A không thuộc trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự theo Điều 13 Bộ luật Hình sự:

Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự; đối với người này, phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh.

Người phạm tội trong khi có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng đã lâm vào tình trạng quy định tại khoản 1 Điều này trước khi bị kết án, thì cũng được áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh. Sau khi khỏi bệnh, người đó có thể phải chịu trách nhiệm hình sự.

Với những quy định được nêu trên thì bà Ng là người hoàn toàn có đủ năng lực để chịu trách nhiệm hình sự.

Về mặt khách quan của tội phạm.

* Hành vi khách quan:

Thứ nhất, Việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ hợp đồng hợp pháp (vay, mượn, thuê …).

Có thể thấy đối với trường hợp này thì việc chuyển giao giấy tờ nhà đất mà cụ thể là giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở đối với 4 thửa đất của Ông N sang cho bà Ng là xuất phát từ hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa hai ông ba. Như đã phân tích ở trên hợp đồng này hoàn toàn có thể là hợp pháp.

Thứ hai, Sau khi nhận được tài sản, người phạm tội mới dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản mà mình đang quản lý hoặc sử dụng vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Nếu không dùng thủ đoạn gian dối như vậy, nhưng sau khi đã nhận tài sản rồi bỏ trốn với ý thức không thanh toán, không trả lại tài sản thì cũng được coi là hành vi chiếm đoạt tài sản.

Có thể nhận thấy hành vi trên của Bà Ng. Cụ thể là sau khi nhận được giấy tờ nhà đất thì bà Ng đã bỏ với ý thức không thanh toán số tiền hợp đồng còn lại của hợpđồng giữa ông bà mà đúng lý bà Ng phải trả cho Ông N , cũng như không có ý định trả lại giấy tờ nhà đất cho Ông N . Vì chỉ có ¾ thửa đất trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là nằm trong hợp đồng mua bán, còn có một thửa đất không nằm trong hợp đồng chuyển nhượng

* Hậu quả: Số tiền chiếm đoạt theo Điều 140 Bộ luật Hình sự (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2009). Hậu quả là việc chiếm đoạt số tiền đối với mảnh đất không nằm trong hợp đồng chuyển nhượng giữa Ông N và bà Ng, được quy định cụ thể tại Điều 140 đã nêu ở trên.

Ngoài những dấu hiệu nêu trên thì có thể thấy các dấu hiệu khác về mặt chủ quan của bà Ng như bà đã thực hiện hành vi phạm tội này một cách có ý thức – lỗi cố ý trực tiếp. Tuy nhiên, việc xác định này sẽ do cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục quy định của pháp luật.

Như vậy bà Ng có thể bị truy tố theo quy định tại Khoản 1 Điều 140 BLHS.

Xác định thời hiệu khởi kiện

“Điều 23. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

1. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự là thời hạn do Bộ luật này quy định mà khi hết thời hạn đó thì người phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

2. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định như sau:

a) Năm năm đối với các tội phạm ít nghiêm trọng;

b) Mười năm đối với các tội phạm nghiêm trọng;

c) Mười lăm năm đối với các tội phạm rất nghiêm trọng;

d) Hai mươi năm đối với các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

3. Thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Nếu trong thời hạn quy định tại khoản 2 Điều này người phạm tội lại phạm tội mới mà Bộ luật quy định mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy trên một năm tù, thì thời gian đã qua không được tính và thời hiệu đối với tội cũ được tính lại kể từ ngày phạm tội mới.

Nếu trong thời hạn nói trên, người phạm tội cố tình trốn tránh và đã có lệnh truy nã, thì thời gian trốn tránh không được tính và thời hiệu tính lại kể từ khi người đó ra tự thú hoặc bị bắt giữ.”

Khoản 1 ĐIều 140 là tội phạm ít nghiêm trọng theo quy định tại Điều 8 BLHS. Như vậy thời hiệu khởi kiện trong trường hợp này là 5 năm. Thời hạn này được tính từ ngày tội phạm được thực hiện. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoàn thành từ thời điểm mà người phạm tội nhận được tài sản của người bị hại. Như vậy ngày tội phạm được thực hiện ở đây chính là ngày mà bà Ng nhận được tài sản của Ông N thông qua hợp đồng chuyển nhượng. Cụ thể là ngày 21/7/2007. Đến hết ngày 21/7/2012 thì đã hết thời hiệu khởi kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bà Ng. Việc quy định thời gian này là hoàn toàn hợp lý,nó yêu cầu tất cả người dân cần nắm rõ tất cả những quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Như vậy kể từ ngày 22/7/2012 thì thời hiệu khởi kiện đối với bà Ng đã hết nên không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Bà Ng theo khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Khởi kiện tranh chấp ngõ đi chung với chú ruột?

Xin chào Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước, Tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Từ khi bố mẹ tôi kết hôn, ông bà nội tôi cho bố mẹ tôi 1 lô đất để ở và cho kèm là cổng (hay gọi là ngõ liên gia). Hiện lô đất của bố mẹ tôi đã được cấp sổ đỏ.



Sơ đồ được vẽ trên sổ đỏ không vẽ chi tiết cổng của bố mẹ tôi mà chỉ được vẽ trên bản đồ của bản địa chính. Vậy xin các luật sư cho tôi hỏi hiện bố tôi đã mất chỉ còn mẹ tôi, em chú của bố tôi đòi xây kín cổng không cho gia đình tôi tiếp tục đi thì gia đình tôi có được phép khởi kiện không?

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi tới chuyên mục hỏi đáp của công ty chúng tôi. Câu hỏi của bạn được giải đáp như sau:

Căn cứ pháp lý: Nghị định 43/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành luật đất đai 2013,Thông tư 34/2014/TT-BTNMT

Trước hết, bạn cần xin cấp trích lục thông tin, bản đồ, hồ sơ địa chính về khu đất của bạn. Bạn sẽ tiến hành nộp văn bản hoặc phiếu yêu cầu cung cấp dữ liệu đất đai tại Văn phòng đăng ký đất đai địa phương theo quy định của thông tư 34/2014/TT-BTNMT. Trường hợp họ từ chối cung cấp thì phải trả lời bằng văn bản nêu rõ lý do từ chối.

Vì trong bản đồ địa chính như bạn nói có thể hiện lối đi chung. Do đó bạn có thể làm thủ tục đăng ký biến động xin điều chỉnh Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tức là trên giấy chứng nhận điều chỉnh thể hiện lối đi. Bạn sẽ nộp hồ sơ đăng ký biến động tại Văn phòng đăng ký đất đai theo quy định tại Điều 85 nghị định 43/2014/NĐ-CP.

Sau khi đã điều chỉnh rồi, bạn có thể đề nghị chú của bạn phá bỏ cổng để gia đình bạn có lối đi chung. Trường hợp hai bên không thể giải quyết được:

Theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai 2013, khi hai bên không thể thỏa hiệp được sẽ yêu cầu giải quyết tranh chấp thông qua tổ hòa giải cấp cơ sở

– Nếu các bên không thể hòa giải được tại cơ sở thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp để yêu cầu giải quyết. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Biên bản hòa giải được gửi đến các bên tranh chấp, lưu tại Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp.

-Nếu đã gửi đơn tới Ủy ban nhân dân xã mà các bên không hòa giải được thì có hai phương án giải quyết : khởi kiện tại Tòa án hoặc yêu cầu cơ quan hành chính nhà nước giải quyết theo quy định tại Điều 203 Luật đát đai 2013.

-Khởi kiện tại tòa án: tòa án chi giải quyết các tranh chấp đất đai mà đương sự đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có nhưng đang sử dụng đất ổn định được Uỷ ban nhân dân cấp xã xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ được quy định tại Điều 100 Luật đất đai 2013.

-Yêu cầu cơ quan hành chính giải quyết: theo quy định điểm a khoản 3 Điều 203 Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết đối với tranh chấp giữa các hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư. Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung giải quyết. Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Tư vấn thủ tục thanh lý hợp đồng?

Xin chào Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước, Tôi có một vấn đề muốn được giải đáp: Hiện tại công ty em và khách hàng đã ký kết hợp đồng làm mạch điều khiển xe từ tháng 5, đến thời điểm này hợp đồng thực hiện được khoảng 85% hợp đồng.



Tuy nhiên do phía khách hàng có xảy ra trục trặc và họ muốn thanh lý hợp đồng. Hai bên đã đồng ý thanh lý hợp đồng và thống nhất về khoản thanh toán. Vậy anh/chị cho em hỏi các thủ tục cần làm để thanh lý hợp đồng này ạ.

Trả lời:

Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi tới công ty. Vấn đề của bạn, công ty xin giải đáp như sau:

Công ty bạn và khách hàng đã ký hợp đồng làm mạch điều khiển xe từ tháng 5, đến thời điểm hiện tại thì hợp đồng đã thực hiện được 85%. Do phía khách hàng có xảy ra trục trặc và họ muốn thanh lý hợp đồng. Giữa công ty bạn và khách hàng đã thỏa thuận và thống nhất về khoản thanh toán. Như vậy, để thanh lý hợp đồng này, công ty bạn và khách hàng chỉ cần làm biên bản thanh lý hợp đồng.

Tư vấn soạn thảo hợp đồng

Lĩnh vực tư vấn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, chuyển quyền sở hữu, hợp đồng mua bán, khai nhận di sản thừa kế hay tư vấn và bảo vệ quyền lợi của quý khách hàng khi phát sinh tranh chấp đất đai….là một trong những lĩnh vực tư vấn pháp lý mà chúng tôi cung cấp …Là một doanh nghiệp với đội ngũ nhân viên tư vấn pháp lý chuyên nghiệp, chúng tôi cam kết cung cấp những dịch vụ tốt nhất, với thời gian nhanh nhất cho quý khách hàng.

Nội dungdịch vụ tư vấn soạn thảo hợp đồng:

– Chuẩn bị các cơ sở pháp lý điều chỉnh các vấn đề liên quan;

– Nghiên cứu tài liệu liên quan, tìm hiểu thông tin liên quan về các bên của hợp đồng trong các trường hợp cụ thể theo yêu cầu của doanh nghiệp từ đó đưa ra giải pháp tư vấn tối ưu cho việc soạn thảo và ký kết hợp đồng, đảm bảo lợi ích tối đa cho doanh nghiệp và cân bằng được lợi ích của các bên trong hợp đồng;

– Cử (các) Luật sư tham gia vào ban đàm phán hợp đồng;

– Đưa ra các ý kiến pháp lý để bên thuê Tư vấn đánh giá, quyết định trong việc đàm phán các nội dung hợp đồng;

– Thẩm định các nội dung, rà soát, chỉnh sửa các điều khoản hợp đồng do đối tác đưa ra;

– Soạn thảo các điều khoản hợp đồng cần thiết, đàm phán với đối tác để bảo vệ các điều khỏan quan trọng, bảo đảm được quyền hợp pháp của bên thuê tư vấn;

– Soạn thảo và hiệu chỉnh các điều khoản liên quan tới quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng;

– Tư vấn và soạn thảo các nội dung khác trên cơ sở các qui định của pháp luật về hợp đồng như điều khoản thanh toán, phạt hợp đồng, luật áp dụng, cơ quan tài phán…

Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước tư vấn soạn thảo các loại hợp đồng:

– Tư vấn soạn thảo Hợp đồng kinh tế;

– Tư vấn soạn thảo Hợp đồng thương mại;

– Tư vấn soạn thảo Hợp đồng đầu tư;

– Tư vấn soạn thảo Hợp đồng dân sự;

– Tư vấn soạn thảo Hợp đồng lao động;

– Tư vấn soạn thảo Hợp đồng hợp đồng hợp tác kinh doanh;

– Tư vấn soạn thảo Hợp đồng hợp đồng liên doanh;

– Tư vấn soạn thảo Hợp đồng hợp đồng mua bán hàng hóa;

– Tư vấn soạn thảo Hợp đồng hợp đồng bảo đảm bí mật…

– Tư vấn soạn thảo Hợp đồng li-xăng;

– Tư vấn soạn thảo Hợp đồng mua bán;

– Tư vấn soạn thảo các loại hợp đồng khác theo yêu cầu của khách hàng…

Tư vấn lập di chúc, từ chối, khai nhận, thỏa thuận chia di tài sản thừa kế

Lĩnh vực tư vấn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, chuyển quyền sở hữu, hợp đồng mua bán, khai nhận di sản thừa kế hay tư vấn và bảo vệ quyền lợi của quý khách hàng khi phát sinh tranh chấp đất đai….là một trong những lĩnh vực tư vấn pháp lý mà chúng tôi cung cấp …Là một doanh nghiệp với đội ngũ nhân viên tư vấn pháp lý chuyên nghiệp, chúng tôi cam kết cung cấp những dịch vụ tốt nhất, với thời gian nhanh nhất cho quý khách hàng.

A. DỊCH VỤ CÔNG CHỨNG, XÁC THỰC DI CHÚC

I. CÁC GIẤY TỜ CẦN XUẤT TRÌNH

– Chứng minh nhân dân, Hộ khẩu của người lập di chúc.

– Các giấy tờ về quyền sở hữu đối với tài sản như: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoạc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Sổ tiết kiệm; Đăng ký xe; Cổ phiếu, Cổ phần hoặc các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản khác (nếu có).

– Bản di chúc đã viết sẵn (nếu có).

– Chứng minh nhân dân, Hộ khẩu của người làm chứng (trong trường hợp cần có người làm chứng).

II. TRÌNH TỰ CÔNG CHỨNG

Bước 1:

1. Người lập di chúc tự viết Di chúc: Người lập di chúc tự viết di chúc trước mặt Công chứng viên hoặc xuất trình bản chính di chúc do chính người đó đã viết sẵn (hai vợ chồng có thể lập chung di chúc). Trường hợp xuất trình bản di chúc đánh máy sẵn thì cần có người làm chứng. Nộp phiếu yêu cầu công chứng theo mẫu quy định, Công chứng viên sẽ kiểm tra tính chính xác và hợp pháp của nội dung di chúc. Nếu bản Di chúc đạt yêu cầu thì công chứng viên sẽ hướng dẫn ký (điểm chỉ) vào Di chúc. Trường hợp bản Di chúc không đạt yêu cầu, Công chứng viên sẽ sửa đổi, bổ sung.

2. Người lập di chúc không tự viết Di chúc: Người lập Di chúc sẽ tuyên bố nội dung di chúc để Công chứng viên ghi chép lại bằng máy vi tính. Sau đó, người lập di chúc đọc lại hoặc nghe Công chứng viên đọc lại toàn văn di chúc. Nếu người lập di chúc xác nhận rằng Công chứng viên đã ghi chép lại đầy đủ, chính xác ý nguyện thì Công chứng viên hướng dẫn ký (điểm chỉ) vào bản di chúc với sự chứng kiến của người làm chứng. Người làm chứng ký vào di chúc.

* Ghi chú: Trường hợp người lập di chúc không tự đọc được, không nghe được hoặc không ký và điểm chỉ được thì phải có 2 người làm chứng.

* Người làm chứng phải đáp ứng đủ các điều kiện sau: Đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự phù hợp theo quy định của pháp luật, không có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến nội dung di chúc và không thuộc diện thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật đối với tài sản được định đoạt trong di chcú.

Bước 2: Công chứng viên ký công chứng di chúc

Bước 3: Nộp lệ phí, đóng dấu văn phòng công chứng.

B. VĂN BẢN KHAI NHẬN, TỪ CHỐI, THOẢ THUẬN PHÂN CHIA DI SẢN THỪA KẾ

I. CÁC GIẤY TỜ CẦN XUẤT TRÌNH

– Chứng minh nhân dân, Hộ khẩu, Giấy khai sinh của người lập văn bản khai nhận / từ chôi / thoả thuận phân chia di sản thừa kế.

– Giấy chứng tử của người để lại di sản.

– Giấy tờ về di sản thừa kế như: Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất ở, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Sổ tiết kiệm, đăng ký xe, cổ phần hoặc các giấy tờ chứng minh quyền sở hữu đối với tài sản (nếu có).

– Di chúc hợp pháp (nếu có).

II. TRÌNH TỰ CÔNG CHỨNG

– Người yêu cầu công chứng nộp đủ các giấy tờ nêu trên cho Công chứng viên, nộp phiếu yêu cầu công chứng theo mẫu quy định.

– Công chứng viên nhận hồ sơ, xem xét hoặc soạn thảo văn bản và hẹn thời gian ký.

– Người yêu cầu công chứng đọc văn bản, khi đồng ý với nội dung thì ký vào văn bản trước mặt Công chứng viên.

– Công chứng viên ký công chứng văn bản.

– Nộp lệ phí, đóng dấu Văn phòng công chứng.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Dịch vụ luật sư tư vấn đàm phán, soạn thảo và ký kết hợp đồng

Lĩnh vực tư vấn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, chuyển quyền sở hữu, hợp đồng mua bán, khai nhận di sản thừa kế hay tư vấn và bảo vệ quyền lợi của quý khách hàng khi phát sinh tranh chấp đất đai….là một trong những lĩnh vực tư vấn pháp lý mà chúng tôi cung cấp …Là một doanh nghiệp với đội ngũ nhân viên tư vấn pháp lý chuyên nghiệp, chúng tôi cam kết cung cấp những dịch vụ tốt nhất, với thời gian nhanh nhất cho quý khách hàng.

Cụ thể các công việcLuật sưtiến hành:

– Chuẩn bị các cơ sở pháp lý, các văn bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan;

– Nghiên cứu tài liệu liên quan, tìm hiểu thông tin liên quan về các bên của hợp đồng trong các trường hợp cụ thể theo yêu cầu của doanh nghiệp từ đó đưa ra giải pháp tư vấn tối ưu cho việc soạn thảo và ký kết hợp đồng, đảm bảo lợi ích tối đa cho doanh nghiệp và cân bằng được lợi ích của các bên trong hợp đồng;

– Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước cử luật sư tham gia vào ban đàm phán hợp đồng;

– Luật sư của Chúng tôi đưa ra các ý kiến pháp lý để bên thuê Tư vấn đánh giá, quyết định trong việc đàm phán các nội dung hợp đồng;

– Thẩm định các nội dung, rà soát, chỉnh sửa các điều khoản hợp đồng do đối tác đưa ra;

– Tư vấn soạn thảo các điều khoản hợp đồng cần thiết, đàm phán với đối tác để bảo vệ các điều khoản quan trọng, bảo đảm được quyền hợp pháp của bên thuê tư vấn;

– Soạn thảo và hiệu chỉnh các điều khoản liên quan tới quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng;

– Tư vấn và soạn thảo các nội dung khác trên cơ sở các qui định của pháp luật về hợp đồng như điều khoản thanh toán, phạt hợp đồng, luật áp dụng, cơ quan tài phán…

– Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước đặc biệt lưu ý cho khách hàng các điều khoản cơ bản, điều khoản tuỳ nghi và phụ lục bổ sung của Hợp đồng ký kết.

Các loại hợp đồng Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước đã tham gia tư vấn:

– Hợp đồng kinh tế;

– Hợp đồng thương mại;

– Hợp đồng hợp tác đầu tư theo hình thức BOT, BTO, BT và PPP;

– Hợp đồng dân sự;

– Hợp đồng lao động;

– Hợp đồng BCC;

– Hợp đồng hợp đồng liên doanh;

– Hợp đồng hợp đồng mua bán hàng hóa;

– Hợp đồng mua bán;

– Các loại hợp đồng khác…

Cụ thể các công việc Luật sư tiến hành:

– Chuẩn bị các cơ sở pháp lý, các văn bản pháp luật điều chỉnh các vấn đề liên quan;

– Nghiên cứu tài liệu liên quan, tìm hiểu thông tin liên quan về các bên của hợp đồng trong các trường hợp cụ thể theo yêu cầu của doanh nghiệp từ đó đưa ra giải pháp tư vấn tối ưu cho việc soạn thảo và ký kết hợp đồng, đảm bảo lợi ích tối đa cho doanh nghiệp và cân bằng được lợi ích của các bên trong hợp đồng;

– Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước cử luật sư tham gia vào ban đàm phán hợp đồng;

– Luật sư của Chúng tôi đưa ra các ý kiến pháp lý để bên thuê Tư vấn đánh giá, quyết định trong việc đàm phán các nội dung hợp đồng;

– Thẩm định các nội dung, rà soát, chỉnh sửa các điều khoản hợp đồng do đối tác đưa ra;

– Tư vấn soạn thảo các điều khoản hợp đồng cần thiết, đàm phán với đối tác để bảo vệ các điều khoản quan trọng, bảo đảm được quyền hợp pháp của bên thuê tư vấn;

– Soạn thảo và hiệu chỉnh các điều khoản liên quan tới quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng;

– Tư vấn và soạn thảo các nội dung khác trên cơ sở các qui định của pháp luật về hợp đồng như điều khoản thanh toán, phạt hợp đồng, luật áp dụng, cơ quan tài phán…

– Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước đặc biệt lưu ý cho khách hàng các điều khoản cơ bản, điều khoản tuỳ nghi và phụ lục bổ sung của Hợp đồng ký kết.

Quy định về hiệu lực của phụ lục hợp đồng ?

Lĩnh vực tư vấn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, chuyển quyền sở hữu, hợp đồng mua bán, khai nhận di sản thừa kế hay tư vấn và bảo vệ quyền lợi của quý khách hàng khi phát sinh tranh chấp đất đai….là một trong những lĩnh vực tư vấn pháp lý mà chúng tôi cung cấp …Là một doanh nghiệp với đội ngũ nhân viên tư vấn pháp lý chuyên nghiệp, chúng tôi cam kết cung cấp những dịch vụ tốt nhất, với thời gian nhanh nhất cho quý khách hàng.

Xin chào Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước, Tôi có câu hỏi sau xin được giải đáp: Em có trường hợp này muốn hỏi anh: Công ty ký hợp đồng kinh tế có thời gian thực hiện từ ngày 02/01/2012 đến 31/12/2012, đến ngày 02/1/2013 mới làm phụ lục bổ sung (Trong hợp đồng kinh tế A có điều khoản nói : Trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu có vấn đề gì phát sinh thì hai bên thống nhất làm phụ lục hợp đồng bổ sung).



Trả lời:

Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước đã nhận được câu hỏi của bạn. Cảm ơn bạn đã quan tâm và gửi câu hỏi đến Công ty. Về vấn đề của bạn, công ty xin giải đáp như sau:

Cơ sở pháp lý:

– Bộ Luật Dân Sự năm 2005

Nội dung phân tích:

Theo thông tin bạn cung cấp thì đây là Hợp đồng kinh tế – Hợp đồng giao dịch dân sự vì vậy:

Căn cứ quy định về hiệu lực pháp lý của phụ lục hợp đồng tại Điều 408 Bộ Luật Dân sự năm 2005 thì:

" 1. Kèm theo hợp đồng có thể có phụ lục để quy định chi tiết một số điều khoản của hợp đồng. Phụ lục hợp đồng có hiệu lực như hợp đồng. Nội dung của phụ lục hợp đồng không được trái với nội dung của hợp đồng.

2. Trong trường hợp phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với nội dung của điều khoản trong hợp đồng thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trong trường hợp các bên chấp nhận phụ lục hợp đồng có điều khoản trái với điều khoản trong hợp đồng thì coi như điều khoản đó trong hợp đồng đã được sửa đổi."

Như vậy, Hợp đồng của bạn đã hết hiệu lực vào ngày 31/12/2012 theo giao kết thì phụ lục bạn bổ sung sau đó sẽ không có giá trị pháp lý.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn, xin đảm bảo tất cả những thông tin tư vấn hoàn toàn đúng theo tinh thần pháp luật. Chúng tôi rất mong nhận được hồi âm của bạn về vấn đề này và luôn sẵn sàng trao đổi những thông tin cần thiết. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty tư vấn của chúng tôi.

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

Rất mong nhận được sự hợp tác cùng Quý khách hàng!

Trân trọng./.

Luật sư tư vấn và giải quyết tranh chấp hợp đồng

Lĩnh vực tư vấn luật lao động là một trong những lĩnh vựctư vấn pháp lý mà chúng tôi cung cấp, cụ thể là chúng tôi sẽ tư vấn cho quý khách hàng về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, giao kết hợp đồng lao động, việc làm, giải quyết tranh chấp lao động….. Là một doanh nghiệp với đội ngũ nhân viên tư vấn pháp lý chuyên nghiệp, chúng tôi cam kết cung cấp những dịch vụ tốt nhất, với thời gian nhanh nhất cho quý khách hàng.

Hợp đồng được kí kết giữa các bên trong hợp tác kinh doanh ngày càng trở nên phổ biến trong thời buổi kinh tế thị trường. Tuy nhiên sau khi kí kết hợp đồng, nếu các bên không tuân thủ theo các cam kết trong hợp đồng thì sẽ phát sinh tranh chấp. Một trong những phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng là khởi kiện ra Tòa án theo thủ tục tố tụng. Đơn khởi kiện giải quyết tranh chấp hợp đồng là văn bản đầu tiên để các đương sự có thể trình bày nội dung vụ việc cũng như đưa ra các yêu cầu đề nghị toà án giải quyết.

Để soạn thảo đơn khởi kiện về tranh chấp Hợp đồng, các bên tham gia giải quyết vụ việc phải nắm vững được quy định pháp luật về hợp đồng, quá trình soạn thảo, kí kết hợp đồng và việc thực hiện hợp đồng. Về nội dung của đơn khởi kiện về tranh chấp hợp đồng, các bên phải tuân thủ theo như các mẫu đơn chung do pháp luật quy định. Mặt khác, đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng phải trình bày quá trình kí kết và thực hiện hợp đồng cũng như hậu quả, thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra. và xác định lỗi của các bên tham gia giao kết, thực hiện hợp đồng. Thông qua những phân tích trên, bên khởi kiện cần phải đưa ra được các yêu cầu của mình để giải quyết tranh chấp như: yêu cầu thực hiện hợp đồng, yêu cầu phạt hợp đồng, bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng, yêu cầu hủy hợp đồng trái pháp luật, yêu cầu tuyên hợp đồng vô hiệu một phần hoặc toàn bộ….

Thông thường nội dung của đơn khởi kiện về tranh chấp hợp đồng bao gồm các yếu tố trên tuy nhiên tuỳ thuộc vào mỗi loại hợp đồng mà luật sư sẽ đi sâu vào chi tiết để trình bày trong nội dung của đơn khởi kiện.

Việc tham gia của luật sư trong quá trình khởi kiện tranh chấp hợp đồng là vô cùng quan trọng và cần thiết. Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước với đội ngũ luật sư, chuyên viên tư vấn giỏi chuyên môn, giàu kinh nghiệm sẽ cung cấp đến quý khách hàng một dịch vụ hoàn hảo theo đúng các cam kết trong giai đoạn này.

Các dịch vụ Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước cung cấp đến khách hàng:

– Tư vấn pháp luật về hợp đồng;

– Tư vấn pháp luật về thủ tục khởi kiện tranh chấp hợp đồng;

– Soạn thảo đơn khởi kiện và hồ sơ khởi kiện;

Quý khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi:

Luật sư tư vấn hợp đồng

Lĩnh vực tư vấn xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, chuyển quyền sở hữu, hợp đồng mua bán, khai nhận di sản thừa kế hay tư vấn và bảo vệ quyền lợi của quý khách hàng khi phát sinh tranh chấp đất đai….là một trong những lĩnh vực tư vấn pháp lý mà chúng tôi cung cấp …Là một doanh nghiệp với đội ngũ nhân viên tư vấn pháp lý chuyên nghiệp, chúng tôi cam kết cung cấp những dịch vụ tốt nhất, với thời gian nhanh nhất cho quý khách hàng.



Luật sư tư vấn hợp đồng:

Công ty Luật Ngôi Nhà Mơ Ước với đội ngũ luật sư được đào tạo chuyên sâu về tư vấn hợp đồng, có kinh nghiệm và kỹ năng chuyên sâu về soạn thảo hợp đồng, tư vấn luật hợp đồng, tư vấn sửa đổi, đàm phán ký kết hợp đồng, giải quyết tranh chấp hợp đồng trong các lĩnh vực thương mại hàng hóa, dịch vụ, vận tải, bất động sản, xây dựng, tài chính, đầu tư, lao động, chuyển giao công nghệ ….

Dịch vụ tư vấn hợp đồng:

Chúng tôi giải quyết tất cả những vấn đề mà khách hàng có thể gặp phải trong các lĩnh vực khác nhau, bao gồm:

– Tư vấn pháp luật liên quan tới lĩnh vực hợp đồng đề cập.

– Phân tích rủi ro và thẩm định hợp đồng, thỏa thuận trước khi ký kết, sau khi ký kết.

– Soạn thảo hợp đồng, rà soát các dự thảo hợp đồng, thỏa thuận trước khi ký kết theo yêu cầu.

– Tư vấn, đại diện theo ủy quyền tham gia thương lượng, đàm phán ký kết hợp đồng với đối tác.

– Tư vấn pháp luật tố tụng, đại diện tham gia thương lượng, đàm phán để đại diện giải quyết tranh chấp hợp đồng tại cơ quan tòa án, trọng tài.

– Biên dịch, phiên dịch các văn bản hợp đồng và hồ sơ pháp lý liên quan.

– Các dịch vụ tư vấn luật khác có liên quan đến hợp đồng.